Nghiệp vụ hối đoái giao ngay và thị trường hối đoái giao ngay
Hối đoái giao ngay là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là hai ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán. Nghiệp vụ này thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay, tức là tỷ giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch.
Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định hiện hành của ngân hàng nhà nước.
| Nội dung giao dịch | Ngày thỏa thuận | Ngày chuyển giao | Tỷ giá áp dụng |
| Công ty Gidomex bán 100.000 USD cho ngân hàng VCB | 24/01 | 26/01 | Tỷ giá mua USD/VND |
| Công ty Import Co. mua 200.000 EUR từ ngân hàng ACB | 02/02 | 04/02 | Tỷ giá bán EUR/VND |
| Tổng quát | T | T + 2 | Tỷ giá giao ngay |
Thị trường hối đoái giao ngay là thị trường thực hiện giao dịch các hợp đồng hối đoái giao ngay. Tham gia thị trường này gồm có các thành phần như ngân hàng thương mại, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư và cá nhân. Nói chung là những người có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ giao ngay. Trên thị trường, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhà kinh doanh vừa đóng vai trò nhà môi giới. Ngân hàng thương mại mua ngoại tệ của các nhà xuất khẩu hay của những người có nhu cầu bán ngoại tệ để bán lại cho các nhà nhập khẩu hay cho những người có nhu cầu mua ngoại tệ.
Yết giá trên thị trường giao ngay
Ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, tức là yết giá ngoại tệ qua VND, trong đó VND là đồng tiền định giá. Ngoài ra, do đặc điểm Việt Nam còn giao dịch tiền mặt nên bên cạnh yết giá ngoại tệ chuyển khoản, các ngân hàng thương mại còn yết giá ngoại tệ tiền mặt.
| Ký hiệu ngoại tệ | Tên ngoại tệ | Mua tiền mặt và Séc | Mua chuyển khoản | Bán |
| USD | Dollar Mỹ | 23,365 | 23,365 | 23,545 |
| GBP | Bảng Anh | 28,861 | 29,035 | 29,460 |
| HKD | Dollar Hồng Kông | 2,969 | 2,990 | 3,062 |
| CHF | Franc Thụy Sỹ | 23,949 | 24,094 | 24,620 |
| JPY | Yên Nhật | 214.01 | 215.3 | 222.65 |
| THB | Baht Thái Lan | 683.52 | 690.42 | 750.28 |
| AUD | Dollar Australia | 14,683 | 14,772 | 15,166 |
| CAD | Dollar Canada | 16,307 | 16,405 | 16,768 |
| SGD | Dollar
Singapore |
16,336 | 16,434 | 16,795 |
| NZD | Dollar New
Zealand |
13,923 | 14,007 | 14,276 |
| KRW | Won Hàn Quốc | 17.15 | 18.94 | 19.99 |
| EUR | Euro | 25,465 | 25,534 | 26,310 |
Nguồn: Ngân hàng Vietcombank

Trên bảng niêm yết giá này, ngân hàng chỉ niêm yết giá các ngoại tệ thường xuyên giao dịch ở thị trường Việt Nam với 2 cột yết giá mua vào và bán ra, trong đó cột yết giá mua vào ngân hàng niêm yết cả hai loại tỷ giá: tỷ giá mua ngoại tệ tiền mặt và tỷ giá mua ngoại tệ chuyển khoản. Riêng cột tỷ giá bán ngân hàng chỉ niêm yết tỷ giá bán chuyển khoản mà không niêm yết tỷ giá bán tiền mặt. Lý do là ngân hàng thương mại không được phép tự do bán ngoại tệ tiền mặt cho khách hàng. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa cách yết giá của ngân hàng ở Việt Nam và cách yết giá thường thấy ở các nước khác.
Chi phí giao dịch
Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng. Các ngân hàng thường không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải chi phí giao dịch và thu lợi nhuận thỏa đáng. Chênh lệch giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tùy thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị của ngoại tệ đó trên thị trường.
Ví dụ, chúng ta có cặp tỷ giá GBP/USD = 1,4229/46. Phí giao dịch khách hàng phải chịu khi mua bán ngoại tệ này với ngân hàng là:
= [(1,4246 – 1,4229) x 100] / 1,4246 = 0,12%
Các ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, EUR, JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1% đến 0,5%, trong khi các ngoại tệ mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá cao hơn nhiều. Lý do là ngân hàng sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua vào các mục đích như phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ mua vào hoặc bán ra, bù đáp chi phí giao dịch và cuối cùng là kiếm lợi nhuận thỏa đáng.
Do vậy, các ngoại tệ có phạm vi giao dịch hẹp, hoặc vào những thời kỳ tỷ giá của ngoại tệ nào đó biến động mạnh, thì ngân hàng duy trì chênh lệch giữa giá bán và giá mua lớn hơn so với các ngoại tệ khác hoặc so với thời kỳ tỷ giá ổn định.
Cơ chế giao dịch
Cơ chế thực hiện giao dịch hối đoái giao ngay tương đối đơn giản hơn các giao dịch khác. Để dễ hình dung cơ chế này, chúng ta xem xét ví dụ sau đây. Một nhà nhập khẩu Việt Nam cần 1 triệu EUR để chi trả cho nhà xuất khẩu Pháp. Nhà nhập khẩu liên hệ một ngân hàng và sau khi thỏa thuận tỷ giá, ngân hàng yêu cầu nhà nhập khẩu xác định rõ hai tài khoản:
Tài khoản của nhà nhập khẩu ở ngân hàng để ghi nợ bằng VND
Tài khoản của nhà xuất khẩu ở Pháp để ghi có 1 triệu EUR.
Sau khi thỏa thuận các vấn đề liên quan đến tỷ giá và cách thức thanh toán, cùng ngày ngân hàng gửi cho nhà nhập khẩu hợp đồng bằng văn bản trong đó ghi rõ số lượng ngoại tệ mua, số lượng VND phải chi trả theo tỷ giá đã thỏa thuận và hình thức thanh toán.
Kế đến ngân hàng sẽ liên hệ với ngân hàng đại lý ở Pháp để yêu cầu trích tài khoản mà ngân hàng mở ở ngân hàng đại lý để thực hiện thanh toán. Đến ngày thanh toán (sau 2 ngày làm việc) ngân hàng sẽ ghi nợ tài khoản người nhập khẩu trong khi ngân hàng đại lý ghi có tài khoản người xuất khẩu.
Hối đoái giao ngay thường thanh toán sau 2 ngày làm việc cho nên trong thời gian này ngân hàng chưa biết chắc rằng hợp đồng mua bán ngoại tệ có thành công hay không.
Để giới hạn rủi ro bội ước hợp đồng, các ngân hàng thường chỉ thực hiện các hợp đồng mua bán ngoại tệ có số lượng lớn với các ngân hàng hoặc các công ty lớn có tên tuổi.
Kinh doanh chênh lệch tỷ giá
Trước những năm 1990, hầu hết các ngân hàng trong các hoạt động mua bán ngoại tệ đều yết giá ngoại tệ giao dịch so với USD. Tuy nhiên, những năm gần đây có đến khoảng 40% giao dịch ngoại tệ không liên quan gì đến USD và tỷ lệ này có xu hướng ngày càng gia tăng. Chẳng hạn, ngân hàng Thụy Sĩ có thể yết giá EUR so với CHF và ngân hàng Đức có thể yết giá GBP so với EUR. Từ đó làm phát sinh những cơ hội kinh doanh chênh lệch tỷ giá giữa các trung tâm tiền tệ khác nhau.
Kinh doanh chênh lệch tỷ giá liên quan đến việc mua ngoại tệ ở một thị trường và bán lại ở một thị trường khác. Việc mua bán như vậy có khuynh hướng làm quân bình tỷ giá giữa các thị trường khác nhau.
Ví dụ:
Giả sử có các tỷ giá sau đây trên thị trường quốc tế:
GBP/USD = 1,5809/39 ở New York
USD/EUR = 0,9419/87 ở Frankfurt
GBP/EUR = 1,4621/71 ở London
Để khai thác cơ hội kinh doanh chênh lệch tỷ giá, nhà kinh doanh sẽ thực hiện các giao dịch sau đây:
1. Từ New York nhà kinh doanh bán 1 triệu USD ở Frankfurt được:
1.000.000 x 0,9419 = 941.900 EUR
2. Dùng số EUR này để mua GBP ở London được:
941.900/1,4621 = 644.210,38 GBP
3. Bán số GBP vừa mua được ở New York được:
644.210,38 GBP x 1,5809 = 1.018.432,19 USD
Lợi nhuận do kinh doanh chênh lệch giá: 1.018.432,19 USD – 1.000.000 = 18.432,19 USD. Tuy lợi nhuận không lớn nhưng kiếm được trong thời gian rất ngắn và hầu như không có rủi ro nên rất hấp dẫn.
Lợi nhuận hấp dẫn này thu hút nhiều người vào cuộc. Khi có nhiều người nhảy vào cuộc, do có nhiều người mua EUR ở Frankfurt nên EUR sẽ lên giá so với USD ở Frankfurt và do có nhiều người bán GPB lấy EUR ở London nên EUR giảm giá so với GBP ở London và rồi cơ hội kinh doanh chênh lệch giá cũng chấm dứt nhường chỗ cho sự quân bình tỷ giá giữa ba khu vực thị trường.
Mặt khác, trong ví dụ trên chúng ta đã bỏ qua chi phí giao dịch và rào cản giao dịch giữa các thị trường. Trên thực tế có chi phí giao dịch và chính chi phí giao dịch cũng như rào cản giữa các thị trường khiến cho giao dịch kinh doanh chênh lệch giá không phải dễ dàng thực hiện. Kết quả, cơ hội kinh doanh chênh lệch giá ít khi xuất hiện và nếu có cũng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Sử dụng giao dịch hối đoái giao ngay
Giao dịch hối đoái giao ngay được ngân hàng sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ giao ngay cho khách hàng. Chẳng hạn một công ty xuất khẩu vừa thu ngoại tệ từ một hợp đồng xuất khẩu nhưng cần VND để chi trả tiền lương và trang trải chi phí thu mua nguyên liệu trong nước sẽ có nhu cầu bán ngoại tệ lấy VND. Ngân hàng thương mại đứng ra mua số ngoại tệ này của nhà xuất khẩu, sau đó bán lại cho nhà nhập khẩu là người có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán hợp đồng nhập khẩu đến hạn. Bằng cách này ngân hàng vừa đáp ứng được nhu cầu bán ngoại tệ của nhà xuất khẩu, vừa đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của nhà nhập khẩu.
Tuy nhiên, nhược điểm của giao dịch hối đoái giao ngay là không đáp ứng được nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ của những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệ nhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện trong tương lai. Chẳng hạn, một nhà xuất khẩu có một hợp đồng nhập khẩu trị giá 50.000 EUR ba tháng nữa sẽ đến hạn thanh toán. Lo sợ rằng ba tháng nữa EUR sẽ lên giá nên nhà nhập khẩu muốn mua từ bây giờ, nhưng vì chưa cần EUR để thanh toán mà muốn việc chuyển giao ngoại tệ ba tháng nữa mới thực hiện. Trong trường hợp này, giao dịch hối đoái giao ngay không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Để đáp ứng nhu cầu này của khách hàng, ngân hàng cần phát triển thêm một loại giao dịch khác, đó là giao dịch hối đoái kỳ hạn – một loại giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó hai bên thỏa thuận tỷ giá và số lượng ngoại tệ giao dịch ở hiện tại nhưng sẽ thực hiện giao dịch và chuyển giao ngoại tệ sau một kỳ hạn nhất định trong tương lai do hai bên thỏa thuận.
Có thể bạn quan tâm: Khóa học thanh toán quốc tế
