Quá trình hình thành và phát triển của hối phiếu
Cùng với kinh tế hàng hóa, thương mại nội địa và quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các thương nhân thường gặp khó khăn trong việc thanh toán ngay tiền hàng với giá trị lớn. Để tăng doanh số bán hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho người mua, mở rộng thị phần và đứng vững trong cạnh tranh, vào thế kỷ 12, người ta bắt đầu bán hàng trả chậm, từ đó hình thành hình thức tín dụng thương mại giữa các thương nhân với nhau.
Trong giai đoạn đầu, tín dụng thương mại được biểu hiện dưới hình thức văn bản nhận nợ, trong đó, người mua tự nhận nợ và cam kết thanh toán cho người bán một số tiền nhất định, tại một địa điểm nhất định và tại một thời điểm xác định trong tương lai. Văn bản nhận nợ của người mua thực chất là một lời hứa trả tiền, nên người ta gọi là “hứa phiếu” (Prossisory note), trong đó con nợ là người mua, chủ nợ là người bán. Đến lượt người bán (chủ nợ), cần vốn để kinh doanh, anh ta có hai phương thức xử lý:
(i) Phát hành một hứa phiếu để mua chịu,
(ii) Dùng hứa phiếu đang sở hữu để thanh toán cho người khác.
Trong thực tế, phương pháp thứ hai được sử dụng chủ yếu, điều này là tiền đề để hứa phiếu trở thành công cụ có tính lưu thông.
Tuy nhiên, những người thụ hưởng hối phiếu vẫn lo lắng cho rằng “hứa phiếu là do con nợ viết ra”, nên mức độ tin cậy trong thanh toán là không cao, điều này làm cho khả năng lưu thông của hứa phiếu bị hạn chế, làm giảm vai trò của tín dụng thương mại như là công cụ thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Để khắc phục hạn chế tính lưu thông của hứa phiếu, người ta đã thay đổi phương thức nhận nợ trong mua bán chịu, đó là: người bán (chủ nợ) chủ động phát hành một hối phiếu, trên cơ sở đó, người mua (con nợ) ký chấp nhận trả nợ.
Do hối phiếu được chủ nợ ký phát, nên được bảo đảm thanh toán hai lần: trước hết là “con nợ” và sau đó là “chủ nợ”. Do được bảo đảm thanh toán hai lần, đặc biệt là có bảo đảm thanh toán, lưu thông chủ yếu trong thanh toán nội địa và trong thanh toán quốc tế. Sau này, từ thế kỷ 16, người ta sử dụng hối phiếu là chủ yếu.
Cơ sở kinh tế đầu tiên của hối phiếu chính là hình thức tín dụng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán chịu hàng hóa giữa các bên tham gia. Ngày nay, hối phiếu được hình thành chủ yếu vẫn trên cơ sở tín dụng thương mại, tuy nhiên, hối phiếu còn được sử dụng trong quan hệ vay mượn, cho tặng và thanh toán.
Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại và công nghệ, hối phiếu ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức và nội dung, dần thoát ly khỏi cơ sở kinh tế ban đầu của nó là tín dụng thương mại, nghĩa là, sau khi được ký phát, hối phiếu trở thành một loại giấy tờ có giá độc lập hoàn toàn với giao dịch kinh tế sản sinh ra nó. Vì là chứng từ có giá, lại chuyển nhượng được nên hối phiếu không chỉ dừng lại trong quan hệ tín dụng thương mại mà còn được sử dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chiết khấu, cầm cố, thế chấp và là phương tiện thnah toán trong các giao dịch khác. Hơn nữa, ngày nay hối phiếu còn trở thành một loại hàng hóa để mua bán trên thị trường tiền tệ, đặc biệt ở một số nước, việc mua bán hối phiếu đã phát triển mạnh thành thị trường riêng biệt.
Luật điều chỉnh hối phiếu
Để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán trong lưu thông và hạn chế những mặt trái của hối phiếu, ngoài việc cần thiết phải chứng chỉ hóa hối phiếu, thì một loạt các quốc gia đã ban hành đạo luật về hối phiếu. Tuy nhiên, do thương mại quốc tế ngày càng phát triển làm phát sinh nhu cầu sử dụng hối phiếu là phương tiện thanh toán quốc tế gia tăng, đòi hỏi phải xd một Luật quốc tế thống nhất về hối phiếu. Những nỗ lực đầu tiên trên phạm vi quốc tế về xây dựng Luật hối phiếu quốc tế đã được triển khai ngay từ đầu thế kỷ 20.
Hội nghị trọng thể về Luật hối phiếu được tổ chức tại Haag năm 1912 đã ra kiến nghị về việc cần ký kết một hiệp định giữa các nước, trong đó, các nước thành viên cam kết sẽ soạn thảo và thi hành pháp lệnh hối phiếu ở nước mình. Ngay trong thời gian đó, Mỹ và Khối liên hiệp Anh, do những lý do riêng, đã tự tách khỏi cam kết thống nhất này. Tuy nhiên, do xảy ra thế chiến lần thứ nhất nên các nước dự hội nghị không thể đi tới việc ký hiệp định về Luật hối phiếu.
Mãi tới năm 1930, hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve, các nước thành viên đã phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu, gọi là Công ước Geneve 1930 về Luật hối phiếu thống nhất (Uniform Law for Bills of Exchange – Geneve Convention 1930, ULB 1930).
Việt Nam mặc dù không là thành viên tham gia Công ước Geneva 1930 nhưng trong quan hệ với các nước chúng ta vẫn sử dụng hối phiếu trong khuôn khổ của ULB 1930 vì ULB được nhiều nước trên thế giới sử dụng. Đứng trước tình hình kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, nhằm tăng cường lưu thông và thúc đẩy sản xuất, ngày 29/12/2005 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006.
Định nghĩa hối phiếu
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác, hoặc trả cho người cầm phiếu.
Trên cơ sở này, hối phiếu thương mại có thể định nghĩa đơn giản và ngắn gọn như sau:
Hối phiếu thương mại là một tờ lệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do người xuất khẩu ký phát đòi tiền người nhập khẩu, yêu cầu người này phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi quy định trên hối phiếu, tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Các chủ thể:
– Người ký phát hối phiếu (drawer): là người bán hàng, người xuất khẩu hàng hóa, người cung ứng dịch vụ. Trong ngoại thương, người ký phát hối phiếu chính là người xuất khẩu.
– Người trả tiền hối phiếu (drawee): là người mà hối phiếu gửi đến cho họ và đòi tiền họ, đó là người mua, người nhập khẩu, người nhận cung ứng dịch vụ hoặc ngân hàng như ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng xác nhận, ngân hàng thanh toán. Trong ngoại thương, tùy theo loại phương thức thanh toán, người nhận ký phát có thể là nhà nhập khẩu hoặc ngân hàng phát hành tín dụng như theo yêu cầu của người nhập khẩu.
– Người chấp nhận (acceptor): người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối phiếu. Người chấp nhận có trách nhiệm thanh toán hối phiếu khi đến hạn. Như vậy, người chấp nhận luôn là người bị ký phát, ngược lại thì không.
– Người hưởng lợi hối phiếu (beneficiary): là người được thụ hưởng số tiền ghi trên hối phiếu. Trước tiên là người ký phát hối phiếu, sau là người nào đó do người ký phát chỉ định. Theo Luật quản lý ngoại hối của Việt Nam, người hưởng lợi là các ngân hàng được cấp phép kinh doanh ngoại hối.
– Người chuyển nhượng (endorser): là người chuyển quyền hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục ký hậu (nên còn gọi là người ký hậu).
– Người bảo lãnh (avaliseur): là bất cứ người nào ký tên vào hối phiếu, ngoại trừ người ký phát và người bị ký phát. Nếu hối phiếu đến hạn mà không được người chấp nhận thanh toán, thì người bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho người hưởng lợi. Người bảo lãnh có quyền truy đòi bất kỳ người nào đã ký tên vào hối phiếu kể cả người ký phát.
Đặc điểm của hối phiếu
Tính trừu tượng của hối phiếu
Thứ nhất, không cần nêu nguyên nhân lập hối phiếu, tức là không cần biết nội dung quan hệ tín dụng của hối phiếu dựa trên cơ sở nào. Khi đã tách ra khỏi hợp đồng thương mại và nằm trong tay người thứ ba, thì hối phiếu trở thành một nghĩa vụ trả tiền độc lập, không phụ thuộc vào hợp đồng thương mại nữa. Người cầm phiếu không cần quan tâm và không cần biết khoản nợ ghi trên hối phiếu phát sinh từ giao dịch kinh tế nào. Nghĩa là, khoản nợ ghi trên hối phiếu là hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc vào hợp đồng mua bán cơ sở, cho dù hợp đồng này là cơ sở để lập và phát hành hối phiếu.
Thứ hai, hiệu lực pháp lý không phụ thuộc vào nguyên nhân sinh ra hối phiếu. Khi chuyển nhượng hay thanh toán, những người liên quan đến hối phiếu không cần quan tâm đến hối phiếu được phát hành trên cơ sở nào, có tuân thủ về hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật hay không. Về mặt pháp lý, bản thân hối phiếu đã hội đủ các yếu tố pháp lý cần thiết để tham gia thnah toán, chuynể nhượng. Trên cơ sở tính độc lập về mặt pháp lý mà người cầm phiếu có thể khởi kiện những người có trách nhiệm liên quan do không được thanh toán, không được chấp nhận, hoặc được chấp nhận nhưng không thanh toán khi đến hạn.
Thứ ba, do có tính trừu tượng nên hối phiếu có thể bị lạm dụng phát hành dưới dạng hối phiếu khống, nghĩa là việc phát hành hối phiếu không dựa trên một hợp đồng mua bán thực sự nào, không có hàng hóa làm cơ sở cho hối phiếu. Vì khi đã phát hành, hối phiếu hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở phát sinh ra nó, do đó, khó có thể phân biệt hối phiếu nào được phát hành trên cơ sở mua bán hàng hóa và hối phiếu nào phát hành không trên cơ sở mua bán hàng hóa. Chính vì vậy, luật các nước nghiêm cấm việc phát hành hối phiếu không trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hóa, tức nghiêm cấm việc phát hành hối phiếu khống.
Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu
Theo pháp luật, người bị ký phát phải trả tiền theo đúng nội dung của hối phiếu, không được viện bất kỳ lý do riêng hoặc chung nào để từ chối trả tiền, nghĩa là việc trả tiền không được kèm theo điều kiện nào, trừ khi hối phiếu được lập trái với luật điều chỉnh nó.
Ví dụ, sau khi ký hợp đồng thương mại, nếu nhà nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát, thì nhà nhập khẩu buộc phải trả tiền cho bất cứ ai là người cầm phiếu ngay cả trong trường hợp người xuất khẩu không giao hàng cho người mua.
Đồng thời, người ký phát phải chịu trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng vô điều kiện nếu hối phiếu đã được chuyển nhượng mà không được thanh toán.
Tính lưu thông của hối phiếu
Trước hết, hối phiếu là một chứng từ có giá tuân thủ chặt chẽ nội dung theo quy định của pháp luật, thể hiện một quan hệ tín dụng được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Là chứng từ có giá, lại có tính trừu tượng và tính bắt buộc phải trả tiền, nên hối phiếu có được tính lưu thông. Nghĩa là hối phiếu có thể được dùng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó để:
– Thanh toán tiền mua hàng hóa hay trả một khoản nợ bất kỳ.
– Chuyển nhượng hối phiếu cho người khác.
– Cầm cố, thế chấp để vay vốn tại ngân hàng thương mại.
– Chiết khấu tại ngân hàng thương mại và tái chiết khấu tại ngân hàng trung ương.
Rõ ràng là, chỉ những hối phiếu đã được chấp nhận thanh toán mới có giá trị chuyển nhượng, bởi vì có như vậy nó mới tin tưởng là sẽ được thanh toán. Hối phiếu do ngân hàng chấp nhận sẽ có tính lưu thông cao hơn hối phiếu do doanh nghiệp chấp nhận, vì ngân hàng có uy tín cao hơn doanh nghiệp.
Hình thức của hối phiếu
Do hối phiếu là một chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả tiền, nên hối phiếu phải được lập ra dưới một hình thức chứng từ. Nhìn chung, các mẫu hối phiếu của các nước được in sẵn, có để trống những đoạn nhất định để người ký phát hối phiếu điền chữ vào. Việc điền chữ vào các đoạn để trống có thể bằng viết tay hoặc đánh máy bằng mực không phai, trong đó đánh máy là thông dụng nhất.
Ngôn ngữ sử dụng phải thống nhất với ngôn ngữ đã in sẵn trên hối phiếu, trừ trường hợp tên và địa điểm không thể phiên âm,phiên dịch được. Hối phiếu có thể được lập thành một hay nhiều bản, thông thường là 2 (hai) bản, đánh số thứ tự và có giá trị ngang nhau.
Trên bản thứ hai ghi rõ: “sau khi nhìn thấy bản thứ nhất của tờ hối phiếu này, bản thứ hai cùng nội dung, ngày tháng không phải trả tiền.” (at___ sight of this FIRST bill of exchange, SECOND of the same tenor and date being unpaid.)
Tương tự cho bản thứ nhất.
Nội dung của hối phiếu
Theo quy định của Luật thống nhất về hối phiếu (ULB), hối phiếu có giá trị pháp lý là hối phiếu được lập ra với đầy đủ các nội dung:

Phải có chữ “Hối phiếu” ghi trên mặt trước chứng từ
Cụm từ hối phiếu bắt buộc phải ghi trên chứng từ và phải ghi bằng cùng thứ tiếng lập hối phiếu. Nếu thiếu, chứng từ đó không được coi là hối phiếu. Việc quy định trên tờ chứng từ phải có tiêu đề “Hối phiếu” là để phân biệt về mặt hình thức một chứng từ có là hối phiếu hay không.
Về thuật ngữ, bằng tiếng Anh có thể là “Bill of Exchange” hoặc “Draft”; bằng tiếng Việt có thể là “Hối phiếu” hoặc “Hối phiếu đòi nợ”. Sau đây, thuật ngữ “Hối phiếu” được ưu tiên sử dụng.
Lệnh thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán vô điều kiện một số tiền nhất định
a. “Vô điều kiện” nghĩa là:
– Đối với người ký phát, khi đưa ra lệnh thì không được kèm theo bất kỳ điều kiện nay lý do nào, mà chỉ đơn thuần ra lệnh thanh toán/chấp nhận là đủ. Khi ra lệnh, nếu người ký phát lại kèm theo điều kiện sẽ làm cho hối phiếu trở nên vô hiệu. Ví dụ, nếu ghi “Thanh toán số tiền hối phiếu nếu hàng hóa đúng yêu cầu”; hoặc “Thanh toán số tiền tương đương với số lượng và giá bán ghi trên hợp đồng”.
– Đối với người bị ký phát, khi nhận được hối phiếu, người bị ký phát chỉ có hai lựa chọn: hoặc là thanh toán/chấp nhận mà không được đưa ra hay viện ra bất cứ một lý do hay điều kiện nào; hoặc là từ chối thanh toán/chấp nhận. Mọi thanh toán/chấp nhận kèm theo điều kiện là vô giá trị.
b. Số tiền ghi trên hối phiếu:
Tùy theo luật của từng nước mà cách ghi số tiền có thể khác nhau:
– Công ước Geneve 1930: Khi số tiền thanh toán của hối phiếu được ghi cả bằng chữ và bằng số nhưng lại không khớp nhau, thì khoản tiền ghi bằng chữ sẽ là khoản tiền thanh toán. Khi khoản tiền thanh toán của hối phiếu được ghi bằng chữ nhiều lần hoặc ghi bằng số nhiều lần và có sự không khớp giữa các lần ghi thì số tiền nhỏ hơn sẽ là số tiền thanh toán.
– Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam: Khi số tiền trên hối phiếu được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu được ghi hai lần trở lên bằng chữ và bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
– Luật các công cụ chuyển nhượng của Trung Quốc và Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn Quốc tế (ISBP): Số tiền ghi bằng chữ và bằng số phải chính xác như nhau.
Tên và địa chỉ của người bị ký phát
Việc quy định tên và địa chỉ của người bị ký phát là nhằm bảo đảm cho người thụ hưởng có thể xác định được ai, ở đâu là người chịu trách nhiệm thanh toán/chấp nhận hối phiếu.
Trong ngoại thương, người bị ký phát phụ thuộc vào phương thức thanh toán. Cụ thể:
– Trong phương thức ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền và nhờ thu: Đó là người nhập khẩu hàng hóa.
– Trong phương thức tín dụng chứng từ: Đó là ngân hàng mở L/C.
Trách nhiệm của người bị ký phát:
– Nếu hối phiếu là trả tiền ngay, thì phải trả ngay theo nội dung quy định trong hối phiếu.
– Nếu hối phiếu là kỳ hạn, thì phải ký chấp nhận khi nhìn thấy hối phiếu và thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
Quyền lợi của người bị ký phát:
– Có quyền từ chối trả tiền khi hối phiếu ký sai luật.
– Có quyền từ chối trả tiền khi chưa ký chấp nhận hối phiếu kỳ hạn.
Thời hạn thanh toán hối phiếu
a. Thanh toán ngay
Nghĩa là thanh toán khi nhìn thấy, khi yêu cầu, khi xuất trình hối phiếu. Đối với hối phiếu thanh toán ngay, thì thời hạn xuất trình để thanh toán theo ULB 1930 là trong vòng 1 năm. Theo Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam là 90 ngày.
Cách ghi thời hạn trả tiền ngay cụ thể như sau:
“At sight of this First Bill of Exchange (Second of the same tenor and dated being unpaid) pay to order of… the sum of…”
b. Thanh toán có kỳ hạn
Bao gồm 4 trường hợp sau:
b.1. Thanh toán tại một ngày nhất định sau khi nhìn thấy:
At X days after sight of this… (first or second) Bill of Exchange, pay to… the sum of…
b2. Thanh toán tại một ngày nhất định sau ngày ký phát:
At X days after signed of this… (first or second) Bill of Exchange, pay to… the sum of…
b3. Thanh toán tại một ngày nhất định sau ngày vận đơn
At X days after bill of lading of this… (first or second) Bill of Exchange, pay to… the sum of…
b4. Thanh toán tại một ngày cụ thể trong tương lai:
On …(date) of this… (first or second) bill of exchange, pay to… the sum of…
Điểm lưu ý là, đối với những hối phiếu không quy định thời hạn thanh toán được xem là hối phiếu thanh toán ngay. Còn các hối phiếu quy định nhiều thời hạn thanh toán hoặc quy định thời hạn thanh toán khác với 4 cách nêu trên đều trở nên vô giá trị. Việc quy định rõ thời hạn thanh toán của hối phiếu là căn cứ quan trọng để xác định thời hạn thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hối phiếu.
Địa điểm thanh toán
Nếu không có quy định khác, thì địa chỉ của người bị ký phát được xem là địa điểm thanh toán hối phiếu. Tuy nhiên, nếu trên hối phiếu quy định một địa điểm thanh toán khác, thì địa điểm này được xem là địa điểm thanh toán hối phiếu.
Ngày nay, người ta thường chọn ngân hàng nơi người bị ký phát mở tài khoản giao dịch làm địa điểm thanh toán thì hối phiếu mới có độ tin cậy cao. Do đó, trong trường hợp này, người ta ghi cả số tài khảon của người bị ký phát, địa chỉ ngân hàng thanh toán trên hối phiếu. Việc quy định địa điểm thanh toán cụ thể trên hối phiếu là yếu tố bắt buộc để người thụ hưởng xuất trình hối phiếu yêu cầu thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
Tên của người thụ hưởng
Người thụ hưởng có thể là: Bản thân người ký phát hoặc một người khác được người ký phát chỉ định, hoặc bất cứ hai được người hưởng lợi chuyển nhượng hối phiếu bằng thủ tục ký hậu hay trao tay. Như vậy, nếu người ký phát không chỉ định người thụ hưởng khác, thì người ký phát chính là người thụ hưởng duy nhất của hối phiếu.
Tuy nhiên, trong thực tế, người ký phát có thể chỉ định một người thụ hưởng khác. Các trường hợp có thể là:
– Chỉ định một người thụ hưởng đích danh khác: “Thanh toán cho ông/bà… số tiền…”. Với cách quy định như thế này, nếu người thụ hưởng không muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác, thì anh ta sẽ là người thụ hưởng duy nhất. Nếu người ký phát muốn chỉ một người nào đó là người thụ hưởng duy nhất thì phải ghi trên hối phiếu câu “Chỉ thanh toán cho ông/bà… số tiền…” hoặc câu “không được chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng” hoặc câu “không trả theo lệnh”. Với cách quy định này, nhằm tạo tư duy thường trực cho những người liên quan đến hối phiếu là: Đặc điểm cơ bản của hối phiếu là chuyển nhượng được, do đó, muốn hối phiếu không được chuyển nhượng thì phải nói rõ điều này.
– Quy định thanh toán theo lệnh: Ví dụ, “thanh toán theo lệnh của ông/bà… số tiền…”. Với cách quy định theo lệnh, nếu không muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác, thì người thụ hưởng chỉ việc ghi câu “thanh toán cho ông/bà (tên của mình)… số tiền…”. Còn nếu muốn chuyển nhượng cho người khác thì ký hậu hối phiếu.
– Quy định việc thanh toán cho người cầm “to the bearer”: Nếu hối phiếu được ký phát cho người cầm, thì bất cứ người cầm nào đều trở thành người thụ hưởng. Người cầm phiếu có quyền chuyển nhượng hối phiếu cho người khác thông qua hình thức trao tay. Một hối phiếu không ghi tên người thụ hưởng đích danh và cũng không ghi cho người cầm (để trống), thì theo tập quán hiểu là thanh toán cho người cầm phiếu.
Trong ngoại thương, các hối phiếu được ký phát cho người hưởng là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, bởi vì theo luật quản lý ngoại hối thì các công ty thường không có tài khảon bằng ngoại tệ mở tại các ngân hàng ở nước ngoài, do đó, phải thông qua ngân hàng phục vụ mình để thu hộ tiền hối phiếu ghi bằng ngoại tệ.
Ngày tháng và nơi phát hành hối phiếu
Nếu trên hối phiếu không ghi rõ địa điểm phát hành, thì địa chỉ của người phát hành được xem là nơi phát hành hối phiếu. Còn nếu trên hối phiếu lại thiếu cả địa chỉ của người phát hành thì hối phiếu trở nên vô giá trị. Địa điểm phát hành hối phiếu có ý nghĩa rất quan trọng, vì luật pháp của nơi phát hành sẽ điều chỉnh hối phiếu này.
Điều chú ý là, nếu hối phiếu không ghi ngày tháng phát hành sẽ trở nên vô giá trị. Điều này là logic. Bởi vì, hối phiếu không có ngày tháng phát hành sẽ không xác định được chính xác ngày hiệu lực thanh toán.
Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát hối phiếu
Như đã nói ở trên, hối phiếu được bảo đảm thanh toán 2 lần, đó là người bị ký phát và người ký phát. Trong trường hợp hối phiếu được chuyển nhượng nhưng người bị ký phát từ chối trả tiền/chấp nhận, thì người ký phát là người cuối cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng. Do đó, tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát là yếu tố bắt buộc thể hiện trên hối phiếu. Luật các nước đều cấm hành vi ký phát hối phiếu không đúng thẩm quyền hoặc giả mạo chữ ký.
Trên đây là 8 yếu tố bắt buộc cấu thành một hối phiếu, thiếu một trong các yếu tố này hối phiếu trở nên vô giá trị. Việc tuân thủ chặt chẽ các yếu tố bắt buộc của hối phiếu có ý nghĩa làm cho hối phiếu trở nên được chứng chỉ hóa và tăng được khả năng lưu thông (chuyển nhượng), đồng thời là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hối phiếu.
Các loại hối phiếu
Căn cứ vào thời hạn trả tiền
+ Hối phiếu trả tiền ngay (sight bill): Là loại hối phiếu quy định người bị ký phát phải thanh toán cho người cầm phiếu ngay khi nhìn thấy hối phiếu. Những hối phiếu không quy định thời hạn thanh toán được xem là hối phiếu trả tiền ngay. Nói là trả ngay nhưng thường thì việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau ngày xuất trình. Đối với hối phiếu trả tiền ngay, thời hạn xuất trình để thanh toán theo Luật Thống nhất về hối phiếu ULB 1930 là trong vòng một năm; theo Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam là 90 ngày kể từ ngày ký phát.
+ Hối phiếu có kỳ hạn (usance bill): là loại hối phiếu chỉ được thanh toán sau một số ngày nhất định kể từ ngày ký phát hối phiếu hoặc kể từ ngày nhìn thấy hối phiếu. Người ký phát có thể quy định thời hạn thanh toán hối phiếu theo 4 cách sau:
+ Một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát hối phiếu.
+ Một thời hạn nhất định kể từ ngày ký chấp nhận hối phiếu.
+ Một thời hạn nhất định kể từ ngày ký vận đơn.
+ Tại một ngày cụ thể trong tương lai.
Căn cứ vào chứng từ kèm theo
– Hối phiếu trơn (clean bill) là loại hối phiếu mà việc thanh toán nó không kèm theo điều kiện có liên quan đến việc trao chứng từ hàng hóa hay không. Trong ngoại thương, hối phiếu trơn được dùng chủ yếu để đòi tiền những người nhập khẩu tin cậy.
– Hối phiếu kèm theo chứng từ (documentary bill): là loại hối phiếu khi gửi đến người trả tiền có kèm theo các chứng từ hàng hóa và nếu người trả tiền thanh toán hối phiếu thì ngân hàng mới giao chứng từ hàng hóa (documents against payment – D/P); nếu người trả tiền chấp nhận thì ngân hàng mới giao chứng từ hàng hóa (documents against acceptance – D/A).
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu
– Hối phiếu đích danh (nominal bill): Một trong những thuộc tính cơ bản của hối phiếu là “được chuyển nhượng”, nghĩa là, hối phiếu phải được chuyển nhượng từ người này sang người khác. Chính vì vậy, khi nói đến hối phiếu đích danh ta phải phân biệt rõ hai trường hợp:
– Hối phiếu đích danh không chuyển nhượng: Vì chuyển nhượng là thuộc tính cơ bản, tự nhiên của hối phiếu, nên để một hối phiếu đích danh là không chuyển nhượng được thì phải có nội dung cấm chuyển nhượng bằng câu:
++ Chỉ trả tiền cho ông A;
++ Trả tiền cho ông A, không chuyển nhượng.
– Hối phiếu đích danh chuyển nhượng: Là hối phiếu quy định trả tiền cho một người đích danh, nhưng không cấm chuyển nhượng. Người thụ hưởng có thể chuyển nhượng hối phiếu theo cách thức thông thường bằng thủ tục ký hậu. Ví dụ, hối phiếu ghi “trả tiền cho ông X” thì ông X được quyền chuyển nhượng hối phiếu bằng thủ tục ký hậu. Như vậy, việc ghi “trả tiền cho ông X” là tương đương với “trả tiền theo lệnh của ông X”.
– Hối phiếu trả người cầm phiếu (bearer bill): là loại hối phiếu vô danh (no-nominal bill), trên hối phiếu không ghi tên người hưởng lợi mà chỉ ghi “Pay to bearer – trả cho người cầm phiếu” hoặc không ghi gì cả. Đối với loại hối phiếu này, ai cầm được nó thì sẽ trở thành người hưởng lợi, không cần phải ký hậu.
– Hối phiếu theo lệnh (order bill): là hối phiếu không phải đích danh và cũng không phải vô danh mà là theo lệnh … pay to order of… Như vậy, người thụ hưởng hối phiếu là không chắc chắn vì còn phụ thuộc vào ý chí của người ra lệnh. Nếu không muốn chuyển nhượng cho người khác thì người ra lệnh chỉ cần điền tên mình vào chỗ trống; còn muốn chuyển nhượng cho người khác thì phải thực hiện thủ tục ký hậu.
Căn cứ vào trạng thái chấp nhận
+ Hối phiếu chưa được ký chấp nhận: Đây là hối phiếu chưa được người bị ký phát chấp nhận. Do chưa ký chấp nhận, nên người bị ký phát chưa bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán hối phiếu. Tuy nhiên, việc từ chối thanh toán hay từ chối ký chấp nhận nếu trái với pháp luật thì người bị ký phát có thể bị kiện ra tòa. Khi hối phiếu chưa được ký chấp nhận thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho người cầm phiếu.
+ Hối phiếu đã được người trả tiền ký chấp nhận: Sau khi ký chấp nhận hối phiếu, người bị ký phát ngay lập tức bị ràng buộc trách nhiệm phải thanh toán hối phiếu khi đến hạn. Tùy theo ai là người ký chấp nhận mà hối phiếu được phân thành:
+ Chấp phiếu thương mại: Đây là hối phiếu được một thương nhân ký chấp nhận. Ngày nay, loại hối phiếu này ít được sử dụng trong giao dịch mua bán quốc tế, bởi vì khả năng thanh toán không cao, chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với chấp phiếu ngân hàng. Chấp phiếu thương mại thường được sử dụng trong quan hệ mua bán giữa các công ty con của cùng công ty mẹ.
+ Chấp phiếu ngân hàng: Đây là loại hối phiếu được ngân hàng ký chấp nhận, cam kết thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Do được ngân hàng chấp nhận, nên hối phiếu loại này có giá trị chuyển nhượng cao, do đó được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế. Chấp phiếu ngân hàng thường áp dụng trong phương thức tín dụng chứng từ trả chậm, theo đó ngân hàng mở L/C ký chấp nhận hối phiếu do người xuất khẩu ký phát.
Các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu
Phát hành hối phiếu
Trong thương mại quốc tế, sau khi ký kết hợp đồng mua bán, nhà xuất khẩu giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán, trong đó thường bao gồm hối phiếu. Như vậy, người ký phát ở đây là nhà xuất khẩu. Tùy theo phương thức thanh toán mà người trả tiền có thể là nhập khẩu (phương thức nhờ thu) hay ngân hàng (phương thức L/C).
Người ký phát phải bảo đảm cho hối phiếu tuân thủ chặt chẽ về mặt hình thức và nội dung. Mọi sai sót khiến cho hối phiếu không được thanh toán hay không được chấp nhận đều thuộc trách nhiệm của người ký phát. Tuy nhiên, ngày nay các ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu luôn giúp kiểm tra hối phiếu trước khi gửi đi, do đó sai sót về hối phiếu là hiếm khi xảy ra. Nhưng cũng không vì thế mà ngân hàng chịu trách nhiệm khi hối phiếu bị từ chối thanh toán hay chấp nhận.
Theo luật định, người ký phát phải bảo đảm việc chấp nhận và thanh toán hối phiếu. Người ký phát có thể được miễn trừ việc bảo đảm chấp nhận; nhưng người ký phát không được miễn trừ nghĩa vụ thanh toán hối phiếu khi người trả tiền từ chối thanh toán.
Chấp nhận hối phiếu (Acceptance)
Sau khi ký phát, phải xuất trình cho người bị ký phát để:
– Người này trả tiền ngay đối với hối phiếu trả ngay; hoặc
– Ký chấp nhận trả tiền đối với hối phiếu có kỳ hạn (nếu cần).
Như vậy, đối với hối phiếu trả ngay thì việc ký chấp nhận là không cần thiết, nếu có ký chấp nhận thì cũng không có ý nghĩa gì. Đối với hối phiếu có kỳ hạn, thì việc ký chấp nhận là không bắt buộc đối với mọi hối phiếu nhưng lại là cần thiết, bởi vì chỉ khi hối phiếu đã được ký chấp nhận trả tiền thì mới có sự tin cậy trong lưu thông.
Chấp nhận hối phiếu là hành vi của người bị ký phát cam kết thanh toán vô điều kiện khi hối phiếu đến hạn. Chấp nhận có thể thực hiện:
– Ghi trực tiếp trên mặt trước tờ hối phiếu các từ “chấp nhận”, ngày tháng và chữ ký của người bị ký phát. Chỉ cần chữ ký của người bị ký phát trên hối phiếu cũng đủ cấu thành sự chấp nhận.
– Chấp nhận bằng văn thư, điện thông báo. Trong trường hợp này, ngày gửi văn thư, điện thông báo được xem là ngày chấp nhận.
Trong trường hợp chỉ chấp nhận thanh toán một phần số tiền ghi trên hối phiếu, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền được chấp nhận.
Chấp nhận là vô điều kiện, nghĩa là người ký chấp nhận không được đưa ra bất kỳ điều kiện nào khi chấp nhận hối phiếu.
Trong thực tế, người nào trả tiền thì người đó ký chấp nhận, do đó:
– Đối với phương thức nhờ thu, nhà nhập khẩu là người trả tiền nên cũng là người ký chấp nhận hối phiếu. Việc nhà nhập khẩu ký chấp nhận gọi là chấp nhận thương mại (trade acceptance).
– Đối với phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng mở L/C là người trả tiền nên cũng là người ký chấp nhận hối phiếu. Việc ngân hàng ký chấp nhận gọi là chấp nhận ngân hàng (banker’s acceptance). Rõ ràng là, hối phiếu được ngân hàng chấp nhận có mức độ chuyển nhượng cao hơn hối phiếu do nhà nhập khẩu chấp nhận.
Ngày tháng ký chấp nhận là bắt buộc đối với loại hối phiếu có kỳ hạn sau X ngày kể từ ngày nhìn thấy (ngày chấp nhận) hối phiếu. Các trường hợp khác, việc ghi ngày tháng ký chấp nhận là không cần thiết.
Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu để chấp nhận đúng địa điểm thanh toán, hối phiếu chưa hết hạn thanh toán và trong thời gian làm việc của người bị ký phát. Hối phiếu có thể được xuất trình trực tiếp để chấp nhận hoặc gửi bằng thư bảo đảm. Ngày xuất trình được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
Khi người bị ký phát đã ký chấp nhận vào hối phiếu, nhưng lại hủy bỏ nó trước khi trả lại hối phiếu, thì chấp nhận được xem là bị từ chối. Tuy nhiên, nếu người bị ký phát đã thông báo chấp nhận bằng văn bản cho người cầm phiếu hoặc bất kỳ người nào đã ký hối phiếu, thì phải chịu trách nhiệm với những người này về các điều khoản chấp nhận.
Chuyển nhượng hối phiếu
Nhìn chung, hối phiếu là chuyển nhượng được, trừ khi trên hối phiếu ghi rõ là cấm chuyển nhượng hoặc chỉ trả tiền cho một người đích danh.
Có 2 phương thức chuyển nhượng:
– Trao tay: Được áp dụng đối với các hối phiếu vô danh (bao gồm: theo lệnh để trống, cho người cầm, để trống, ký hậu cho người cầm, ký hậu để trống, ký hậu theo lệnh để trống).
– Ký hậu: Là bắt buộc đối với hối phiếu đích danh (không cấm chuyển nhượng), hối phiếu chuyển nhượng theo lệnh đích danh. Đối với các hối phiếu khác, việc ký hậu chuyển nhượng là không cần thiết, nhưng không bị cấm.
Ký hậu là một thủ tục chuyển nhượng hối phiếu bằng cách ký vào mặt sau của tờ hối phiếu theo đúng thủ tục quy định và trao tờ hối phiếu cho người được chuyển nhượng. Hành vi ký hậu có hai ý nghĩa pháp lý rất quan trọng. Thứ nhất là thừa nhận quyền hưởng lợi của người được chuyển nhượng. Thứ hai là xác định trách nhiệm của người ký hậu về việc trả tiền của hối phiếu được chuyển nhượng nhằm bảo vệ quyền lợi của người thụ hưởng kế tiếp. Nếu người trả tiền vì lý do gì đó thất bại trong việc thanh toán thì người ký hậu phải có trách nhiệm thanh toán cho người được chuyển nhượng. Về hình thức, ký hậu có thể thực hiện bằng một trong những cách sau đây:
– Ký hậu để trắng (blank endorsement): là loại ký hậu không chỉ định người hưởng lợi kế tiếp là ai. Người ký hậu chỉ ký tên mà thôi.
Ký hậu trắng thường được áp dụng phổ biến vì nó cho phép hối phiếu được chuyển nhượng nhiều lần trước khi đến hạn thanh toán, làm cho tính lưu thông của hối phiếu tăng lên.
– Ký hậu theo lệnh, còn gọi là ký hậu đặc biệt (order endorsement – special endorsement): là việc ký hậu chỉ định một cách suy đoán ra người hưởng lợi hối phiếu. Như vậy, người hưởng lợi hối phiếu chưa cụ thể. Ví dụ: “Pay to the order of Mr…” hoặc “Pay to Mr… order”.
– Ký hậu hạn chế (restrictive endorsement): là việc ký hậu chỉ định tên người hưởng lợi kế tiếp và chỉ có người đó mà thôi. Ví dụ: “Pay to Mr…. only”. Với loại hối phiếu này, hối phiếu không thể tiếp tục chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu nữa.
– Ký hậu miễn truy đòi – ký hậu bảo lưu (without recourse endorsement – qualified endorsement): là việc ký hậu mà sau đó, người hưởng lợi kế tiếp không được quyền đòi lại tiền ở người ký hậu cho mình khi người ký hậu (con nợ) từ chối trả tiền hối phiếu.
– Ký hậu có điều kiện (conditional endorsement) là việc ký hậu chuyển nhượng hối phiếu cho một người nếu người này thực hiện được những quy định của người ký hậu.
Bảo lãnh hối phiếu – Aval
Bảo lãnh hối phiếu là việc người thứ ba cam kết với người nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hay một phần số tiền ghi trên hối phiếu nếu đã đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
Về hình thức bảo lãnh được thực hiện bằng cách:
– Người bảo bảo lãnh ghi lên mặt trước hay mặt sau hối phiếu cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bào lãnh, tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên hối phiếu.
– Trong trường hợp bảo lãnh không ghi tên người được bảo lãnh thì bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát.
– Ngoài hình thức bảo lãnh trên, một số nước còn dùng hình thức bảo lãnh bằng một văn thư riêng, gọi là bảo lãnh mật. Sở dĩ có hình thức này là do người được bảo lãnh không muốn người thứ ba biết tình hình tài chính của mình đến mức phải có sự bảo lãnh.
– Người bị ký phát hay người ký phát không được ký tên với tư cách là người bảo lãnh, nếu có ký thì cũng vô giá trị.
Để một bảo lãnh thực sự có giá trị, thì người bảo lãnh thường là một ngân hàng có uy tín. Người bảo lãnh bị ràng buộc trách nhiệm giống như một người được anh ta bảo lãnh. Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh được tiếp nhận các quyền của người được bảo lãnh đối với những người có liên quan, xử lý tài sản bảo đảm của người được bảo lãnh và có quyền yêu cầu người được bảo lãnh, người ký phát, người chấp nhận thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh đã thanh toán.
Cầm cố và nhờ thu hối phiếu
Người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu tại các tổ chức tín dụng để vay vốn. Khi người cầm cố hoàn thành nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu thì người nhận cầm cố phải hoàn trả hối phiếu cho người cầm cố. Trong trường hợp người cầm cố không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu thì người nhận cầm cố trở thành người thụ hưởng hối phiếu và được thanh toán theo nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.
Người thụ hưởng có thể chuyển giao hối phiếu cho người thu hộ để nhờ thu số tiền ghi trên hối phiếu kèm theo ủy quyền bằng văn bản về việc thu hộ.
Người thu hộ không được thực hiện các quyền của người thụ hưởng theo hối phiếu ngoài quyền xuất trình hối phiếu để thanh toán, quyền nhận số tiền trên hối phiếu, quyền chuyển giao hối phiếu cho người thu hộ khác để nhờ thu hối phiếu.
Trường hợp người thu hộ không xuất trình hoặc xuất trình không đúng thời hạn hối phiếu để thanh toán dẫn đến hối phiếu không được thanh toán thì người thu hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng tối đa bằng số tiền ghi trên hối phiếu.
Kháng nghị không trả tiền – Protest for non-payment
Khi hối phiếu bị từ chối trả tiền, người hưởng lợi có quyền kháng nghị người trả tiền trước pháp luật. Người hưởng lợi phải lập đơn kháng nghị trong thời hạn pháp luật cho phép (thường là trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày hối phiếu đến hạn thanh toán).
Sau khi lập xong đơn kháng nghị, người bị từ chối thanh toán phải thông báo bằng văn bản cho một trong những người chuyển nhượng trước đó để đòi tiền.
Nếu không có bản kháng nghị thì những người được chuyển nhượng sẽ được miễn trách nhiệm trả tiền, nhưng người ký phát thì không. Điều quan trọng đối với người xuất trình hối phiếu bị từ chối thanh toán là phải tiến hành đúng các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Giải trái – Discharge
Khi hối phiếu được người bị ký phát thanh toán đầy đủ và đúng hạn, thì các nghĩa vụ liên quan đến hối phiếu sẽ tự động hết hiệu lực, tức được giải trái (đã trả nợ xong theo quy định).
Trong thực tế, các trường hợp sau cũng được coi là giải trái, gồm:
– Người chấp nhận là người cầm phiếu khi đến hạn, nghĩa là anh ta đã có được trong tay hối phiếu mà anh ta có trách nhiệm thanh toán.
– Hối phiếu hết hiệu lực pháp lý do quá thời hạn theo luật định.
– Người cầm phiếu tuyên bố bằng văn bản từ bỏ quyền lợi về hối phiếu và tuyên hủy bỏ hối phiếu (từ không đòi người bị ký phát nữa).
– Người bị ký phát thanh toán hối phiếu trước khi đến hạn.
Chiết khấu hối phiếu (discount)
Chiết khấu hối phiếu là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Người bán hoặc người hưởng lợi hối phiếu xuất trình hối phiếu chưa đến hạn trả tiền cho ngân hàng. Nếu họ cần bán hối phiếu để lấy tiền ngay, ngân hàng sẽ mua hối phiếu đó với một giá thấp hơn số tiền ghi trên tờ hối phiếu đó. Nếu hai bên đồng ý, người hưởng lợi hối phiếu sẽ thực hiện nghiệp vụ ký hậu để chuyển nhượng hối phiếu đó cho ngân hàng. Chênh lệch giữa số tiền ghi trên tờ hối phiếu với số tiền ngân hàng bỏ ra mua tờ hối phiếu đó gọi là lợi tức chiết khấu.
Tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức chiết khấu và số tiền ghi trên tờ hối phiếu gọi là tỷ suất chiết khấu.
Có thể bạn quan tâm: Khóa học thanh toán quốc tế
